bổ sung fluor cho răng
Vậy đối với kem đánh răng và bổ sung fluor cho trẻ con thì nên quyết định thế nào? Từ các nghiên cứu có trong suốt hơn hai mươi năm qua, thì năm 1998 đã bắt đầu có những kêu gọi của một số nhà khoa học, cho rằng không nên cho fluor vào kem đánh răng cho trẻ em, cũng như không cho trẻ em bổ sung fluor nữa.
Tình trạng trẻ bị sâu răng và còi xương luôn là nỗi lo lắng của các bậc phụ huynh. Nhiều người cho rằng sử dụng các chế phẩm chứa fluor sẽ giúp cải thiện được tình trạng này. Vậy sự thật là fluor có tốt cho xương không và vai trò của fluor như thế nào?
VN là quốc gia đầu tiên ở châu Á thực hiện đưa fluor vào muối ăn để dự phòng sâu răng cho cộng đồng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)”. PGS-TS Trịnh Đình Hải, Viện trưởng Viện Răng Hàm Mặt quốc gia, thông báo như vậy tại hội thảo khoa học về
Để chữa sâu răng, chỉ cần phết vào chỗ sâu một lớp vecni hoặc gel chứa fluor. Vì vậy nhiều người đã vội vàng bổ sung chất này cho trẻ từ khi sơ sinh hoặc còn nằm trong bụng mẹ. Những trẻ lớn hơn bị buộc đánh răng nhiều lần trong ngày hoặc bổ sung fluor giọt.
Răng nhiễm fluor là kết quả của việc tiêu thụ dư thừa fluor trong quá trình hình thành răng. Tình trạng nhiễm fluor ở men răng hay tình trạng răng bị nhiễm fluor nguyên phát chỉ có thể xảy ra khi răng đang hình thành và do đó chỉ xảy ra trong thời thơ ấu. Trong hàm răng vĩnh viễn, nếu răng bị nhiễm fluor sẽ bắt
Grillschürze Mann Mit Grill Sucht Frau Mit Kohle.
Fluor là một nguyên tố hóa học được biết đến rộng rãi. Đây là một nguyên tố vi lượng tham gia vào nhiều thành phần cấu trúc và chuyển hóa trong cơ thể. Đối với răng miệng, Fluor đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành men răng cũng như ức chế sâu răng. Hãy cùng tìm hiểu về nguyên tố này và các tác động của Fluor trên răng qua bài viết Bác sĩ chuyên khoa Răng – Hàm – Mặt Trương Mỹ Linh nhé! Giới thiệu chung về Fluor Fluor F là một chất hóa học có trong tự nhiên, được hấp thu vào cơ thể người, tạo nên sự thay đổi trong cơ thể. Những thay đổi đó có thể là tốt phòng sâu răng, giúp xương và răng cứng chắc hơn. Hoặc có thể xấu như gây ngộ độc F, nhiễm độc F trên răng và xương. Đặc điểm nguyên tố hóa học Fluor được tìm ra năm 1813, xếp ở hàng thứ 9 trong bảng phân loại tuần hoàn. Trọng lượng phân tử là 19. Ion F có hóa trị 1. F là nguyên tố âm điện nhất, phản ứng với hầu hết các chất và hiếm thấy ở dạng tự do. Nó là nguyên tố vi lượng chỉ cần một lượng rất nhỏ, phần triệu cũng có thể có những ảnh hưởng sinh học. F có nhiều trong vỏ trái đất dưới dạng hợp chất, chiếm khoảng 0,065% trọng lượng vỏ trái đất . Giới thiệu về nguyên tố F Các dạng hợp chất Fluor thường gặp Hợp chất Fluor hòa tan được NaF, HF, H2[SiF6], Na2PO3F… Hợp chất ít hòa tan CaF2, MgF2, AlF3… Nguồn gốc Fluor Có sẵn trong tự nhiên Flour từ vỏ Trái Đất đi vào khí quyển qua hoạt động của núi lửa và gió. Sau đó, nó theo mưa đi vào biển, hồ, sông, suối và đất. Fluor từ môi trường sẽ đi vào cơ thể thực vật, động vật. Do con người tạo ra Fluor từ các quá trình công nghiệp nghiền, sấy khô các chất khoáng có Fluor, quá trình luyện kim, làm kiếng, nung gạch, than… 1. Fluor trong đất đá Nồng độ Fluor cao ở các đá silicon, đá alcolic. Trong đó, 50 chất khoáng có Fluor đã được biết đến fluorspar fluorite CaF2, 49% F, fluorapatite Ca5PO43F, 34% F và cryolite Na3AlF6, 54% F. Nồng độ Fluor trong đất 50 đến 500ppm ở điều kiện bình thường , có khuynh hướng tăng dần theo chiều sâu . Ở những vùng có hoạt động của núi lửa, do lắng đọng bụi tro nên vùng đất xung quanh có lượng Fluor rất cao trong những ngày đầu. Có thể lên đến 2000ppm, sau đó giảm dần. Trên núi cao, nồng độ Fluor trong đất thấp do hiện tượng núi lở. Lúc đó, Fluor di chuyển xuống các đồi thấp hơn, hoặc do Fluor theo nước sông chảy ra biển. Vùng núi lửa có chứa nhiều Fluor 2. Fluor trong nước Chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố có sẵn Khả năng hòa tan của Fluor. Sự xói mòn đất đá. Nhiệt độ. Độ pH. Tình trạng địa chất từng vùng khác nhau khiến cho nồng độ Fluor của nguồn nước cũng khác. Ngay trong cùng một cộng đồng, các giếng nước khác nhau cũng chứa lượng Fluor khác nhau. Fluor trong nước trên bề mặt có thể gia tăng do các chất thải công nghiệp, rác rưởi, phân bón. Ở vùng đất không nhiễm mặn, F kết hợp chủ yếu với Ca tạo thành hợp chất ít hòa tan. Nồng độ F trong nước thấp. Ở vùng đất nhiễm mặn, F phản ứng với Na tạo NaF có khả năng hoà tan trong nước. Nồng độ F trong nước cao hơn. Nước có nhiều F thường gặp ở dưới chân núi cao hoặc ở vùng có đất bồi dọc bờ biển. Nước mưa thường có nồng độ F rất ít. Nồng độ F trong các nguồn nước thay đổi ở nhiều thời điểm khác nhau trong năm do ảnh hưởng của khí hậu và nhiều yếu tố tại chỗ. Do đó, việc khảo sát để đánh giá nồng độ F trong nước cần được thực hiện vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm. Nồng độ F trong nước tùy từng khu vực sẽ khác nhau Nồng độ F trong nước biển chứa 0,891ppm. Tuy nhiên, nó có thể tăng cục bộ do ảnh hưởng hoạt động của núi lửa dưới đáy biển. Các dòng nước nóng có liên quan đến hoạt động của núi lửa, chứa lượng F cao. Các suối nước gần chỗ hoạt động của núi lửa có thể chứa đến – ppm . 3. Fluor trong không khí Fluor trong không khí có thể từ nhiều nguồn khác nhau. Có thể do các chất phun ra từ núi lửa. Do bụi Fluor từ đất cát, từ các chất khoáng. Hơi nước biển. Khói từ than đốt, phóng thích từ các quá trình công nghiệp khác nhau. Ở các vùng có hoạt động của các nhà máy, nồng độ Fluor trong không khí cao. Khí từ các nhà máy thải ra có nồng độ fluor khoảng 1,4mg/m3, còn không khí của các vùng lân cận có 0,2mg/m3. Than đá có chứa đến khoảng 500ppm Fluor. Nồng độ Fluor trong không khí ở những thành phố có sử dụng than hoặc dùng củi đốt cao . Khí đốt từ các nhà máy than đốt chứa Fluor 4. Fluor trong sinh vật Theo Weenstein, bình thường thì lượng Fluor tích tụ trong thực vật thường nhỏ. Những cây cỏ mọc trên đất acid thường có nồng độ fluor cao hơn. Cây cối tăng trưởng ở các vùng có hoạt động kỹ nghệ thì có sự gia tăng nồng độ Fluor. Đó là do sự hấp thụ Fluor trên bề mặt lá cây. Lượng F trong cây thay đổi tùy thuộc từng loại cây. Nó chịu ảnh hưởng bởi tuổi của cây, phân bón được sử dụng, đất trồng, nước tưới và những yếu tố khác. Một vài loại thực vật tích tụ nhiều F như trà. 5. Fluor trong thực phẩm Fluor trong thực phẩm đặc Một số loại rau và trái cây thường dùng có nồng độ F không đáng kể, 0,1 – 0,4ppm. Rau có nồng độ F cao là hành 17 – 72ppm, tỏi 10 – 11ppm, rau muống 0,42 – 11,2ppm. Theo Viện Vệ sinh Dịch tễ TP. HCM 1982 rau muống, rau dền, cải bẹ trắng và xanh, chuối, gạo có nồng độ Fluor < 1ppm. Đặc biệt, trà, khoai sọ, khoai lang và khoai mì có nồng độ F cao. Trừ khoai tây không có F. Thịt, sữa, trứng chứa đựng ít F 0,01 – 0,03ppm. Cá lóc có nồng độ F cao 5,7ppm. Các loại thực phẩm biển thường có nồng độ F cao. Thực phẩm có muối như nước mắm, mắm, khô đều có nồng độ F cao. Nồng độ F trong cá lóc cao Các thực phẩm chỉ đem vào cơ thể một khối lượng nhỏ F. Lượng F vào cơ thể khác nhau tùy theo từng cá nhân, loại thực phẩm được sử dụng và loại nước để chế biến thực phẩm có F hay không. Fluor trong thực phẩm lỏng Nước uống là nguồn cung cấp F vào cơ thể nhiều nhất và đều đặn nhất. Lượng nước uống hằng ngày tùy thuộc vào tuổi, nhiệt độ, khí hậu và tập quán ăn uống. F còn chứa trong bia và các loại rượu khác, nước ngọt… Trà chứa đựng nhiều F nhưng trà pha nước sôi có nồng độ F thấp hơn. Nồng độ F trong nước trà tùy thuộc vào nồng độ F trong nguồn nước dùng để pha trà, cũng như tùy vào việc pha trà đậm đặc hay loãng. Sữa mẹ chứa đựng ít F. Nồng độ F trong sữa bò khác nhau tùy từng loại sữa. Nồng độ F trong sữa đã pha cũng phụ thuộc vào nồng độ F trong nước dùng để pha. Fluor có nhiều trong trà 5. Fluor trong các sản phẩm Fluor tại chỗ kem đánh răng, nước súc miệng, gel F, foam F… Kem đánh răng cho người lớn chứa – ppm fluoride 1 mg F/g kem. Kem đánh răng cho trẻ em chứa 400 – 500ppm fluoride Fluoride trong nước súc miệng hằng tuần có nồng độ 0,2%, loại hằng ngày là 0,05%. Loại này chỉ áp dụng cho trẻ trên 6 tuổi. Fluor toàn thân muối F, sữa F, viên F. Các dạng chất bổ sung Fluor Một số lời khuyên Từ 6 – 17 tháng, trẻ cần được người lớn làm sạch răng không sử dụng kem. Tất cả trẻ em đều không được sử dụng kem đánh răng người lớn. Sử dụng kem đánh răng với kích thước bằng hạt gạo với trẻ em dưới 3 tuổi và phải cẩn thận không nuốt. Để có kết quả tốt nhất, kem đánh răng nên được để trên răng khoảng 4 phút. Trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi không nên cho ăn với công thức pha chế bằng nước có chất fluoride. Nước súc miệng Fluor có thể được sử dụng cho trẻ trên tuổi. Đặc biệt là ở những trẻ đã sâu răng và/hoặc mang niềng răng. Sử dụng fluoride đánh bóng với tất cả các bệnh nhân sau khi cạo vôi, làm sạch răng . Sự chuyển hóa của Fluor Sự hấp thu Fluor F được đưa vào cơ thể chủ yếu theo đường tiêu hóa, cũng có thể theo đường thở do hít F từ không khí hoặc do chích vào từ một số thuốc có chứa F. F có thể được nuốt vào cơ thể từ thức ăn, thức uống, dược phẩm. Tùy dạng vật lý và hóa học của các hợp chất F, tùy theo sự hòa tan của nó, số lượng được nuốt vào mà ta có liều lượng F được hấp thụ và đi vào hệ tuần hoàn. F có thể có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ. Sự phóng thích ion F tùy vào sự hòa tan của các hợp chất, ngoại trừ Na2PO3F cần phải được thủy phân nhờ hoạt động của enzym sau đó mới được hấp thụ. Chỉ có ion Fluor là quan trọng trong nha, y và sức khỏe cộng đồng. Tốc độ và mức độ Sau khi được đưa vào cơ thể, F được hấp thụ khá nhanh. Chỉ vài phút sau khi nuốt có sự gia tăng nồng độ F ở huyết thanh. Nồng độ F trong huyết thanh đạt đỉnh cao trong vòng 30 – 60 phút. Khoảng thời gian này không phụ thuộc vào lượng F nuốt vào. Đối với các dạng F hòa tan như viên NaF, dung dịch NaF thì hấp thụ hoàn toàn. Đối với các dạng hòa tan kém như CaF2, MgF2 và AlF3 thì hấp thụ không hoàn toàn . F được đưa vào cùng với thức ăn sẽ làm chậm và làm giảm sự hấp thu F. Chải răng ngay sau khi ăn vừa là một thói quen tốt vừa hạn chế sự hấp thụ F. Để sở hữu hàm răng khỏe mạnh, trắng sáng thì bạn cần đặc biệt chú ý để phòng các bệnh thường gặp. Xem thêm Phòng bệnh răng miệng để có sức khỏe toàn diện. Bạn được khuyến khích đánh răng sau khi ăn Cơ chế và vị trí hấp thụ Quá trình hấp thụ là quá trình khuếch tán thụ động. Fluor được hấp thụ ở dạ dày và ruột. Cơ chế và tốc độ hấp thụ Fluor liên quan đến độ acid. Khi ion Fluor đi vào môi trường acid của dạ dày tạo HF H + + F+ HF, sẵn sàng khuếch tán qua màng nhày của dạ dày, ruột. Hầu hết các Fluor chưa được hấp thụ ở dạ dày sẽ được hấp thụ nhanh chóng ở ruột non. Nếu có một lượng ion Calcium đáng kể được nuốt vào thì sẽ làm giảm hấp thu F tại dạ dày và ruột. Fluor trong huyết thanh Huyết thanh là dịch sinh học. F vào huyết thanh sẽ đi khắp cơ thể. F trong huyết thanh tồn tại dưới 2 dạng ion F còn gọi là F vô cơ hay F tự do và F kết hợp không ion hóa. Dạng ion F được nhận biết bởi fluoride electrode và có ý nghĩa về mặt sinh học. Còn dạng không ion chưa thấy ý nghĩa. Theo Y văn, nồng độ F đối với huyết thanh được gọi là “bình thường” là 0,7 – 2,4µM. Có nhiều cơ chế điều hòa trong cơ thể để giữ nồng độ F trong huyết thanh ít thay đổi khi có những thay đổi sự hấp thụ F vào cơ thể. Nhưng khi nồng độ F hấp thụ tăng cao quá, cơ thể không điều hòa được tốt nữa sẽ làm tăng nồng độ F trong huyết thanh. Sự phân bố Fluor F phân bố trong mô mềm Từ huyết thanh đến các mô mềm, nồng độ F cũng giảm xuống. Nồng độ F trong các mô mềm thấp hơn trong huyết thanh trừ thận. F trong nước bọt Nồng độ F bình thường trong nước bọt khoảng 1 µmol/l, ít hơn trong huyết thanh. Khi sử dụng F tại chỗ thì nồng độ F trong nước bọt sẽ tăng cao. Sự thải trừ fluoride đưa từ bên ngoài vào của nước bọt sẽ kéo dài khi nồng độ đầu tiên cao. Do sự lắng đọng CaF2 trên bề mặt răng và sự hòa tan từ từ của nó. Tốc độ thải không bằng nhau ở mọi vị trí trong miệng mặt lưỡi nhanh hơn ở mặt má nhiều tuyến nước bọt lớn ở mặt lưỡi, nhất là tuyến dưới hàm. Còn ở mặt ngoài thì chủ yếu là những tuyến nhỏ và rất nhầy, chảy chậm. Trong nước bọt có F Fluor trong mảng bám. Cao, nhất là khi sử dụng F tại chỗ do F kết hợp với Ca tạo CaF2, ít hòa tan/hòa tan chậm. Sự phân bố trong các mô khoáng hóa Hơn 90% F trong cơ thể được tìm thấy trong mô khoáng hóa xương và răng. Nồng độ F trong các mô khoáng hóa thay đổi theo Lượng F đưa vào cơ thể. Thời gian tiếp xúc với F. Các yếu tố khác giai đoạn phát triển của mô, tốc độ phát triển, phản ứng giữa mô bề mặt và khung vô cơ, độ xốp và mức độ khoáng hóa hoá của mô. Ở các mô khoáng hóa, nồng độ F có khuynh hướng cao ở bề mặt . 1. Trong mô xương F tích tụ trong xương nhiều hơn trong răng của cùng một cá thể. Nồng độ F ngoài màng xương cao hơn bên trong. 2. Trong mô răng Nồng độ F cao ở lớp ngoài cùng của men răng và giảm dần đến đường nối men – ngà. Sau đó, nó tăng từ từ đến vùng tiếp giáp ngà – tủy. Nồng độ F trong ngà cao hơn nồng độ F trong men không sử dụng F tại chỗ. 3. Sự hấp thu vào men Giai đoạn trước khi răng mọc men chưa canxi hóa đầy đủ, còn xốp nên hấp thu F dễ dàng. Giai đoạn sau khi răng mọc khi răng mới mọc ra, men còn xốp, hấp thu F dễ dàng. Sau một thời gian, men răng đã calci hóa đầy đủ nên F khó hấp thu. F hấp thu dễ ở những vùng khiếm khuyết của men, những vùng men bị xốp, những xoang sâu. 4. Sự phân bố trong nhau thai Có một số tác giả cho rằng nhau thai là hàng rào ngăn cản sự khuếch tán của F vào trong phôi. Nói chung, F có thể khuyếch tán qua nhau thai một phần, vào máu phôi thai tích tụ ở xương và răng . Sự bài tiết Phần lớn là qua nước tiểu. Việc bài tiết qua sữa mẹ rất ít. Qua phân chủ yếu là các loại F không hòa tan. Qua mồ hôi . Cơ chế tác dụng của Fluor đối với răng miệng 1. Fluor làm tăng độ cứng của men răng Nồng độ F cao ở lớp ngoài của men răng giúp bảo vệ men răng chống lại sự tấn công của vi khuẩn. F ngấm vào men răng biến các hydroxy apatite thành Fluoroapatite. F thay thế OH- trong tinh thể apatite tạo thành tinh thể Fluoroapatite. Trong tinh thể Fluorapatite F có khả năng liên kết ion mạnh hơn OH, có ái lực với Caº hơn OH và tạo tinh thể đối xứng hơn ion OH. Fluorapatite rắn chắc hơn hydroxy apatite và ít bị hòa tan bởi acid hơn. Hydroxy apatite có thể bị hòa tan trong môi trường acid pH = 5,5. Nhưng các Fluoroapatite thì chỉ bị hòa tan ở pH < 4,5. Nếu lượng F quá nhiều, tác động vào giai đoạn trưởng thành của men răng thì việc hình thành men răng bị xáo trộn, ảnh hưởng đến chất lượng của men răng. Chỉ có 10% ion OH- trong tinh thể men răng được thay thế bằng F- thì mới làm cho men răng đề kháng tối đa với sâu răng. 2. Fluor ảnh hưởng đến tốc độ hòa tan của men răng F có ái lực mạnh với Ca tạo thành CaF2. lon Calcium và ion Fluor kết hợp với nhau tạo thành Calcium Fluoride CaF2 trên bề mặt của Fluorapatite. Do đó làm giảm khả năng hòa tan của men răng. 3. Fluor làm ổn định các phase vô cơ Ion F thay thế ion Carbonate trong cấu trúc của apatite. Các tinh thể apatite có càng ít ion carbonate hơn thì ổn định hơn và ít có khả năng hòa tan hơn. 4. Fluor làm gia tăng sự tái khoáng hóa trong các sang thương sâu răng sớm Có tác dụng làm tái lắng đọng các ion Calcium và Phosphat vào bề mặt men răng, kết hợp với Ca và P có được do sự mất khoáng men để thành lập một cấu trúc tinh thể men mới được cải thiện hơn, đề kháng với acid hơn và chứa nhiều F hơn, ít carbonate hơn. F được hấp thu vào men răng mất khoáng dễ dàng hơn men răng lành mạnh. Trong môi trường miệng răng luôn có sự tác động của 2 cơ chế mất khoáng và tái khoáng. Dưới tác động của F, tái khoáng xảy ra nhiều hơn. 5. Hiệu quả trên việc sinh acid Fluor làm cản trở hoạt động của men enolase và ATP-ase nên làm giảm sự sản sinh acid. 6. Ngăn cản sự biến dưỡng của vi khuẩn F ảnh hưởng đến hoạt động của vi khuẩn gây sâu răng. F ngăn cản vi khuẩn gây sâu răng chuyển hóa các carbohydrate để sinh acid và ngăn cản sự tạo thành polysacchride. 7. Ức chế sự thành lập mảng bám Ngăn chặn sự hình thành của polysaccharide tổng hợp, chất chính của mảng bám. 8. Fluor làm thay đổi hình dạng múi rãnh F có ảnh hưởng đến sự tổng hợp protein, làm giảm lượng khung hữu cơ nên sẽ làm giảm bề dày men răng và gây sự thay đổi trên hình dạng múi rãnh. Quan sát ở những người lớn lên tại vùng có F hóa nước sẽ thấy các múi răng tròn hơn, các rãnh mặt nhai ít sâu hơn. Liều Fluor đưa vào cơ thể Là liều Fluor có thể phòng sâu răng và không hoặc chỉ gây nhiễm độc rất ít. Liều tối ưu là 0,05 – 0,07 mg/kg/ngày. Nhiễm độc Fluor Có thể cấp tính hoặc mãn tính. F có thể gây nhiễm độc nếu sử dụng liều cao trong một lần hoặc liều nhỏ trong một thời gian dài. Liều gây độc là 5 mg F/kg. Trẻ 1 – 2 tuổi, cân nặng 10 kg, 50 mg F. Trẻ 5 – 6 tuổi, cân nặng 20 kg, liều gây độc là 100 mg F. Người lớn cân nặng 60 kg, liều gây độc là mg F 3 g. Ngộ độc cấp tính F Triệu chứng Nhẹ đau lan tỏa bụng, tiêu chảy, co giật, nôn mửa, tăng tiết nước bọt… Nặng rối loạn nhịp tim, hô hấp, hôn mê… Điều trị Mục đích là làm giảm thiểu lượng F có thể bị hấp thu, loại bỏ F khỏi cơ thể, hồi phục bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không ói được phải sử dụng thuốc gây ói calcium gluconate hoặc calcium choride. Nếu không có thì cho uống sữa càng nhiều càng tốt . Bệnh nhân có co giật hoặc hôn mê phải đưa vào bệnh viện gấp để khai thông đường thở, truyền tĩnh mạch, rửa ruột. Nhiễm độc mãn tính trên xương Gây đau khớp, cứng khớp, cứng xương, xương xốp. Nhiễm độc mãn tính trên răng Răng nhiễm Fluor. Fluor ngừa sâu răng Đầu thế kỷ 20, mối liên kết giữa nồng độ F trong nước và giảm tỉ lệ sâu răng được chứng minh. Vai trò cải thiện cải thiện sức khỏe răng miệng của F được nghiên cứu trên toàn thế giới. F ngừa sâu răng hiệu quả nhất khi lượng nhỏ F được duy trì trong miệng. Nguồn dự trữ F quan trọng là trong mảng bám, nước bọt, bề mặt mô mềm và dạng F gắn lỏng lẻo trên bề mặt men răng. F kiểm soát sâu răng hiệu quả bằng một số cách khác nhau. Trong mảng bám và nước bọt, F trì hoãn mất khoảng và thúc đẩy tải khoảng sang thương sâu răng mới chớm, quá trình lành thương trước khi hình thành lỗ sâu. F cản trở glycolysis – quá trình chuyển hoá đường tạo acid của VK. Ở nồng độ cao, F có tính kháng khuẩn. Khi F tiêu thụ vào trong khi răng hình thành, F làm cho răng đề kháng tốt hơn với sâu răng sau này. Mục đích của chương trình sức khỏe cộng đồng là áp dụng một biện pháp thích hợp để duy trì lượng nhỏ F trong cộng đồng thường xuyên nhất có thể. Biện pháp cơ bản cung cấp F ngừa sâu răng gồm Chương trình cộng đồng thêm F vào nguồn nước, muối, sữa cung cấp cho cộng đồng. Chuyên khoa áp gel F, bôi vanish F. Tự sử dụng kem đánh răng, nước súc miệng. Dùng nước súc miệng giúp răng chắc khỏe Hiểu rõ về đặc điểm và nguồn gốc của Fluor cũng như những tác dụng của nó trên bề mặt men răng giúp chúng ta có cách sử dụng các nguồn F hợp lý. F là nguyên tố quan trọng đối với cơ thể. Nếu sử dụng quá mức sẽ dẫn đến ngộ độc cấp tính, nhiễm độc trên răng và xương. Trong trường hợp nguy cấp có thể dẫn đến tử vong. Do đó, khi cần bổ sung F, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước.
Vấn đề bổ sung Fluor cho bé luôn được nhiều gia đình quan tâm, đặc biệt là những gia đình có bé trong độ tuổi hình thành răng sữa. Vậy có nên bổ sung Fluor hay không? Bổ sung như thế nào cho hiệu quả? Tất cả các thắc mắc trên sẽ được giải đáp thông qua bài viết sau đây. Cùng xem ngay! 1/ Có nên bổ sung Fluor cho bé không?2/ Cách bổ sung Fluor cho bé hiệu quảCách 1 Bổ sung Fluor trực tiếp trên răngCách 2 Bổ sung Fluor thông qua thực phẩmCách 3 Bổ sung Fluor từ thực phẩm chức năng3/ Những lưu ý khi bổ sung fluor cho răng của trẻ 1/ Có nên bổ sung Fluor cho bé không? Bổ sung Fluor cho bé là điều vô cùng cần thiết bởi đây là dưỡng chất quan trọng trong quá trình bảo vệ răng miệng của bé, tránh nguy cơ gây ra sâu răng và hình thành các bệnh răng miệng nguy hiểm. Fluor sẽ giúp cho men răng của trẻ chắc khỏe, ngăn ngừa axit có hại từ các mảng bám trên răng nhằm bảo vệ răng tối đa khỏi các nguy cơ sâu răng, quan trọng hơn là cấu trúc bên trong của răng giúp răng chắc khỏe, tránh tình trạng gãy răng, vỡ răng.. Bên cạnh đó, khi men răng của trẻ được củng cố bởi Fluor sẽ không có cơ hội để vi khuẩn tấn công gây ra hôi miệng, viêm lợi. Mặc dù răng sữa sẽ được thay thế, nhưng sâu răng sữa lúc nhỏ sẽ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của răng vĩnh viễn khi trưởng thành. Theo khuyến cáo mới, nên bổ sung Fluor cho trẻ ngay từ khi chiếc răng sữa đầu tiên xuất hiện. Chính vì vậy, mẹ cần chú ý bổ sung Fluor cho trẻ một cách hợp lý, đúng liều lượng để giúp trẻ có quá trình răng sữa chắc khỏe, phòng chống sâu răng cho trẻ. Tăng cường Fluor là điều vô cùng cần thiết đối với sức khỏe răng miệng của bé 2/ Cách bổ sung Fluor cho bé hiệu quả Để quá trình bổ sung Fluor cho trẻ em hiệu quả, mẹ có thể tham khảo những cách sau đây Cách 1 Bổ sung Fluor trực tiếp trên răng Cách phổ biến nhất đó là sử dụng kem đánh răng bổ sung Fluor cho trẻ. Điều này phù hợp đối với những trẻ bắt đầu xuất hiện răng sữa. Rất nhiều mẹ sử dụng kem đánh răng không chứa Fluor cho trẻ vào thời điểm này vì lo lắng rằng trẻ còn quá nhỏ và nguy cơ trẻ nuốt Fluor vào cơ thể khá cao. Tuy nhiên đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm bởi điều này sẽ khiến lượng Fluor bổ sung cho răng trẻ không được đảm bảo, gia tăng nguy cơ sún răng, men răng yếu, sâu răng ở trẻ em. Thực tế trên thị trường hiện nay xuất hiện rất nhiều kem đánh răng có Flour cho bé với hàm lượng Fluor được kiểm định an toàn đối với cơ thể của trẻ. Mẹ có thể tìm mua những sản phẩm này và cho con đánh răng với liều lượng như sau + Trẻ dưới 3 tuổi sử dụng kem đánh răng chứa lượng Fluor thấp và mỗi lần đánh chỉ dùng lượng kem có kích thước bằng 1 hạt đậu nhỏ. + Trẻ trên 3 tuổi mẹ có thể cho bé sử dụng kem đánh răng có hàm lượng Fluor khoảng 200-500 ppm tuy nhiên cần có sự giám sát để đảm bảo trẻ có quá trình đánh răng an toàn. Việc bổ sung Fluor cho bé sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất khi đảm bảo tần suất đánh răng cho bé là 2-3 lần/ ngày sau khi thức dậy, sau bữa ăn và trước lúc đi ngủ. Mẹ cần lựa chọn loại kem đánh răng có hàm lượng Fluor phù hợp với độ tuổi của bé Cách 2 Bổ sung Fluor thông qua thực phẩm Mẹ có thể bổ sung Fluor cho bé qua những thực phẩm chứa Fluor như khoai lang, khoai tây, nấm mỡ, cà chua, cà rốt, bưởi …. Việc cho bé ăn những loại thực phẩm trên sẽ tăng cường hàm lượng Fluor cung cấp cho cơ thể bé một cách an toàn và hiệu quả. Khi được cung cấp đủ, hàm răng của bé sẽ được bảo vệ, ngăn ngừa khỏi nguy cơ sâu răng, sún răng, đảm bảo chất lượng răng của bé tốt hơn. Khoai lang, khoai tây là những thực phẩm chứa lượng Fluor dồi dào Cách 3 Bổ sung Fluor từ thực phẩm chức năng Nếu trẻ còn khó khăn trong việc đánh răng. Bé chưa chịu hợp tác hoặc hay thường xuyên nuốt kem đánh răng, mẹ nên bổ sung thêm Fluor từ các loại thực phẩm bổ sung cho bé. Đặc biệt ở các bé đã xuất hiện hiện tưởng mủn răng, sún răng, đau răng,… Với các bé nhỏ, dạng Fluor nhỏ giọt sẽ là lựa chọn tối ưu nhất. Sau khi nhỏ Fluor vào miệng trẻ, bạn hướng dẫn bé ngậm giữ trong miệng khoảng 15-20 giây trước khi nuốt. Như thế, bên cạnh tác dụng toàn thân sau khi uống, Fluor còn cho tác dụng bảo vệ men răng ngay tại chỗ. Tham khảo thông tin sản phẩm tại Buonavit D3F – Bổ sung vitamin D3 và Flour hỗ trợ hệ xương và răng toàn diện cho trẻ 3/ Những lưu ý khi bổ sung fluor cho răng của trẻ Lưu ý khi bổ sung Fluor cho bé mà mẹ không thể bỏ qua có thể được kể đến – Nên cho trẻ đánh răng với kem đánh răng có chứa Fluor cho bé ngay từ khi chiếc răng sữa đầu tiên xuất hiện. – Không hôn, mớm cơm cho trẻ. – Luyện tập thói quen vệ sinh răng miệng của trẻ ngay từ nhỏ nhằm tạo tiền đề cho men răng vững chắc, tránh được những bệnh lý răng miệng và đảm bảo chất lượng răng cho trẻ vào giai đoạn trưởng thành. – Đánh răng 2-3 lần/ngày vào 30 phút sau ăn. Khi mới ăn xong nên súc miệng, không nên đánh răng ngay bởi lúc này men răng còn yếu, có thể gây ra tình trạng ăn mòn men răng khiến răng của trẻ dễ dàng sâu và gãy rụng hơn. – Giúp con hiểu được tầm quan trọng của việc đánh răng và chăm sóc răng miệng nhằm giúp con có tâm lý thoải mái và trách nhiệm trong việc đảm bảo sức khỏe răng của mình. – Mẹ cần đưa bé đi thăm khám nha sĩ định kỳ 6 tháng/ lần. Trong mọi trường hợp, bác sĩ sẽ đưa ra những lời khuyên cũng như giải pháp phù hợp để giúp bé có hàm răng chắc khỏe, sáng bóng. Mẹ nên đưa bé kiểm tra răng định kỳ 6 tháng/ lần để đảm bảo sức khỏe răng miệng cho bé Hy vọng bài viết về bổ sung Fluor cho bé đã giúp các bậc phụ huynh có thêm nhiều thông tin hữu ích trong quá trình chăm sóc răng miệng cho bé nhà mình. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào, mẹ có thể gọi đến hotline để được giải đáp miễn phí trong thời gian sớm nhất. Tham khảo thêm 2 Cách xử lý khi răng sữa của trẻ bị mòn mà ba mẹ cần phải biết
Sâu răng là hiện tượng răng bị phá hủy, thường được gọi là lỗ sâu. Các triệu chứng như đau, nhạy cảm thường xuất hiện muộn. Chẩn đoán dựa trên việc kiểm tra, thăm dò bề mặt men răng bằng dụng cụ kim loại cứng và chụp X-quang nha khoa. Điều trị bao gồm loại bỏ cấu trúc răng bị ảnh hưởng và phục hồi lại bằng các vật liệu khác nhau. Fluor, vệ sinh răng miệng hằng ngày, trám bít hỗ rãnh, và chế độ ăn uống hợp lý gần như có thể ngăn ngừa tất cả các trường hợp sâu răng. Sâu răng là do các axit sinh ra bởi vi khuẩn trong mảng bám răng. Mảng bám răng, ban đầu, là một màng mỏng chứa vi khuẩn, mucin, tế bào biểu mô chết, và mảnh vụn thức ăn phát triển trên bề mặt răng trong vòng 24 giờ sau khi răng được làm sạch. Streptococcus mutans là nhóm vi khuẩn có liên quan, chúng phát triển trong mảng bám và có thể gây sâu răng. Một số chủng vi khuẩn gây sâu răng mạnh hơn các chủng khác. Cuối cùng thông thường, sau 72 giờ, mảng bám khoáng hóa mềm, chủ yếu là với canxi, phosphat, và các khoáng chất khác, trở thành cao răng mảng bám cứng hoặc vôi răng, không thể dễ dàng loại bỏ bằng bàn chải đánh răng. Có một số yếu tố nguy cơ gây sâu răng Kiểm soát mảng bám không tốtKhiếm khuyết nha khoaChế độ ăn uống, đặc biệt là tiêu thụ thường xuyên carbohydrate và đường trong chế độ ăn uốngMôi trường có nồng độ axit cao và/hoặc fluor thấpYếu tố gen di truyềnNhiều răng có lỗ, khe nứt và rãnh men hở, có thể đi sâu từ bề mặt đến ngà răng xem hình Các loại sâu răng Các loại lỗ sâu . Những khuyết hổng này có thể đủ rộng để chứa vi khuẩn nhưng lại quá hẹp để được làm sạch một cách hiệu quả. Chúng có thể dẫn đến sâu răng. Chế độ ăn chứa nhiều carbohydrat và đường sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của các vi khuẩn hình thành mảng bám. Sự phát triển của sâu răng nặng ở trẻ nhỏ sâu răng tràn lan ở những chiếc răng rụng cho thấy trẻ tiếp xúc lâu với sữa công thức, sữa hoặc nước trái cây, thường là khi trẻ sơ sinh đi ngủ với bình sữa sâu răng ở trẻ nhỏ hoặc bú mẹ. Do đó, các chai bú bình lúc ngủ chỉ nên chứa mặt răng nhạy cảm với sâu răng hơn khi nó vôi hoá kém, ít tiếp xúc với fluor và/hoặc trong môi trường axit. Thông thường, mất canxi bắt đầu khi pH trên răng giảm xuống dưới 5,5 ví dụ, khi vi khuẩn sản sinh ra axit lactic nhân lên hoặc sử dụng nước uống nước ngọt, nước uống thể thao hoặc nước tăng lực, thường có độ pH dưới 5,5. Người cao tuổi thường dùng các thuốc làm giảm lưu lượng nước bọt, dẫn đến sâu răng. Họ cũng có tỉ lệ sâu chân răng cao hơn do sự tụt lợi, bề mặt chân răng bị bộc lộ và khả năng thao tác bằng tay giảm vệ sinh miệng không hiệu quả. Các loại lỗ sâu Sâu răng không được điều trị sẽ dẫn đến phá hủy răng, nhiễm trùng dẫn đến phải nhổ răng và thay thế bằng răng giả. Mất răng sữa có thể làm di chuyển các răng bên cạnh làm cản trở mọc các răng vĩnh viễn tương ứng của chúng. Wong A, Subar PE, Young DA Dental caries An update on dental trends and therapy. Adv Pediatr 641307-330, 2017. doi Triệu chứng và Dấu hiệu của Sâu răng Khám trực tiếpĐôi khi cần chụp phim X-quang hoặc kiểm tra bằng các dụng cụ xét nghiệm chuyên dụng Kiểm tra lâm sàng định kỳ, thường xuyên mỗi 3-12 tháng tùy vào nguy cơ sâu răng của bệnh nhân do nha sĩ đánh giá để phát hiện sâu răng sớm khi mà can thiệp tối thiểu có thể ngăn chúng tiến triển. Sử dụng một cây thám trâm nhọn, đôi khi cần chất nhuộm màu chuyên dụng, mặc dù những công cụ này thường được dùng kèm các thiết bị mới để phát hiện sâu răng thông qua sự thay đổi tính dẫn điện, phản xạ laser hoặc xuyên sáng bao gồm cả thiết bị ánh sáng gần hồng ngoại. Tuy nhiên, X-quang vẫn là quan trọng nhất để phát hiện sâu răng, xác định độ sâu tổn thương, và xác định sâu răng dưới các phục hình hiện có. Điều trị phục hồiĐôi khi cần điều trị tủy và làm chụp bọc Việc tái tạo khoáng cho răng mới chớm bị sâu chỉ giới hạn ở men răng thường được thử thực hiện bằng cách cải thiện việc chăm sóc tại nhà đánh răng và dùng chỉ nha khoa, làm sạch, kê đơn kem đánh răng có hàm lượng florua cao và sử dụng nhiều loại florua tại phòng khám nha khoa. Các sản phẩm bôi tại chỗ khác được quảng cáo để tái khoáng hóa răng có chứa canxi và phốt phát nhưng kém hiệu quả hơn trong việc tái khoáng hóa sâu răng so với florua. Được bán trên thị trường Hoa Kỳ từ năm 2015, silver diamine florua SDF có khả năng ngăn chặn và tái khoáng các tổn thương nghiêm trọng. Tuy nhiên, vì SDF làm vết sâu răng đen vĩnh viễn nên chủ yếu dùng trên răng sữa. Điều trị sâu răng đã tiến triển đến ngà răng là khoan sạch tổ chức sâu, sau đó hàn lỗ sâu lại. Hàn mặt nhai cho những răng sau, những răng chịu lực nhai phải sử dụng các vật liệu chịu lực, bao gồm Amalgam bạcNhựa composite Hỗn hống bạc kết hợp bạc, thủy ngân, đồng, thiếc và đôi khi là kẽm, palađi hoặc indi. Amalgam không tốn kém và tồn tại trung bình 14 năm. Tuy nhiên, nếu vệ sinh răng miệng tốt và nếu amalgam đã được cách li nước bọt bằng cách sử dụng một đê cao su, nhiều mối hàn amalgam có thể tồn tại > 40 năm. Amalgam là vật liệu có độ bền cao với tỷ lệ hư hỏng hàng năm thấp hơn so với nhựa composite; do đó, phục hình bằng amalgam tồn tại lâu hơn và có khả năng chống sâu răng thứ cấp cao hơn so với phục hình bằng composite 1 Tài liệu tham khảo về điều trị Sâu răng là hiện tượng răng bị phá hủy, thường được gọi là lỗ sâu. Các triệu chứng như đau, nhạy cảm thường xuất hiện muộn. Chẩn đoán dựa trên việc kiểm tra, thăm dò bề mặt men răng bằng dụng... đọc thêm . Việc sử dụng hỗn hống đang giảm xuống vì 2 lý do chính Kết quả không đảm bảo tính thẩm mỹ như kết quả đạt được với vật liệu tổng hợp hoặc máy tạo ion thủy những lo ngại về môi trường về việc loại bỏ và xử lý hàm lượng thủy ngân của hỗn dù người ta đã lo ngại về "ngộ độc thủy ngân", nhưng số lần trám hỗn hống mà một người thực hiện không liên quan đến nồng độ thủy ngân trong máu của họ. Việc thay thế hỗn hống không được khuyến nghị vì nó đắt tiền, làm hỏng cấu trúc răng, thực sự làm tăng khả năng phơi nhiễm của bệnh nhân với thủy ngân và cần phải sử dụng máy tách hỗn hống để tránh thải hàm lượng thủy ngân ra môi trường. Do những lo ngại về môi trường gần đây về việc xử lý hàm lượng thủy ngân trong các chất trám truyền thống, nên có xu hướng sử dụng các vật liệu nha khoa khác với hỗn hống. Nhựa composite, thẩm mỹ hơn, từ lâu đã được sử dụng với các răng trước, do tại đó yêu cầu thẩm mỹ là chính và lực nhai là tối thiểu. Nhiều bệnh nhân yêu cầu sử dụng composite ở những răng sau, và ngày nay nó đã được sử dụng phổ biến. Composite thế hệ đầu khi chịu lực nhai lớn thường chỉ tồn tại trong thời gian bằng một nửa amalgam và thường gây ra sâu răng tái phát bởi composite sẽ co lại khi nó trở nên cứng, nở ra và co lại khi tiếp xúc với nóng lạnh nhiều hơn mô răng và các vật liệu hàn răng khác. Thế hệ vật liệu tổng hợp hiện tại mô phỏng chặt chẽ hơn độ cứng của men răng, dường như không có tỷ lệ sâu răng tái phát giống như các vật liệu trước đó và cũng có thể tồn tại lâu hơn. Việc sử dụng các vật liệu nhựa composite cho phép bảo tồn cấu trúc răng tốt hơn so với chế phẩm thủy tinh, một chất hàn có màu răng, giải phóng fluor tại chỗ sẽ có lợi với bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân dễ bị sâu răng. Nó cũng được sử dụng để hàn các vùng bị phá hủy do đánh răng quá mạnh. Ionomer thủy tinh không thẩm mỹ như composite và không nên sử dụng ở mặt nhai vì nó có độ mài mòn cao. Vật liệu kính dán kính biến đổi nhựa cũng có sẵn và cung cấp một số cải tiến về mặt thẩm mỹ so với các loại kính dán thông còn lại quá ít ngà để giữ phục hình, nha sĩ thay thế phần ngà đó bằng cement, amalgam, composite, hoặc các vật liệu khác. Đôi khi phải đặt một hoặc nhiều chốt vào chân răng để nâng đỡ cùi răng bằng vàng, bạc hoặc composite thay thế ngà thân răng. Thủ thuật này đòi hỏi phải khoan răng để lấy tủy và hàn kín hệ thống ống tủy. Hệ thống ống tủy được làm sạch, tạo hình, và sau đó hàn kín bằng gutta-percha. Các mặt ngoài của răng vốn được che phủ bởi men răng được mài đi và thay thế bằng chụp răng nhân tạo, thường bằng kim loại, hoặc sứ. Chụp các răng trước thường làm từ, hoặc được phủ bằng sứ hoặc gốm. 1. Moraschini V, Fai CK, Alto RM, et al Amalgam and resin composite longevity of posterior restorations A systematic review and meta-analysis. J Dent 4391043-1050, 2015. doi Thường xuyên đánh răng và dùng chỉ nha khoaNước, kem đánh răng chứa fluor, hoặc cả haiThường xuyên đến nha sĩ làm sạch răng Hiếm khi dự phòng bằng chlohexidine và sử dụng chế phẩm của fluor dùng tại chỗĐối với hầu hết mọi người, sâu răng có thể phòng tránh được. Sâu răng đầu tiên hình thành trên răng vĩnh viễn vào đầu tuổi teen đến trước tuổi 20. Những người dễ bị sâu răng thường là những người ít tiếp xúc với fluor và có hệ vi khuẩn gây sâu răng mạnh được truyền từ mẹ hoặc do tiếp xúc xã hội. Giữ vệ sinh răng miệng tốt là đặc biệt quan trọng, cũng như các yếu tố chế độ ăn uống, nhất là giảm thiểu lượng đường và đồ uống có tính axit, đồng thời có chế độ ăn giàu canxi. Loại bỏ mảng bám ít nhất 24 giờ một lần, thường bằng cách đánh răng và dùng chỉ nha khoa, giúp ngăn ngừa sâu răng. Phần ba lợi của răng là khu vực quan trọng nhất để làm sạch nhưng lại là khu vực thường bị bỏ quên nhất. Đánh răng bằng bàn chải điện trong 2 phút là rất tốt; đánh răng bằng tay dùng bàn chải lông mềm kéo dài từ 3 đến 4 phút là đủ. Sử dụng kem đánh răng quá nhiều, đặc biệt là loại chứa chất mài mòn, có thể làm mòn răng. Chỉ nha khoa được đặt giữa các răng, áp vào cạnh mỗi răng, và di chuyển lên xuống 3 lần, đi ngay dưới viền lợi. Chỉ nha khoa rất mỏng hoặc được tráng bằng sáp hoặc polytetraethylene có thể sử dụng ở những vùng có tiếp xúc rất sát hoặc miếng hàn có đường viền uống bổ sung cho trẻ em có sẵn dưới dạng kem đánh răng, chất lỏng để sử dụng trong ống nhỏ giọt cho trẻ sơ sinh, gel và viên nén. Nên ngậm viên nén trong miệng để tăng cường hấp thu fluor tại chỗ trước khi nuốt. Phải lựa chọn liều fluor thích hợp dựa vào lượng fluor có trong nước uống và chế độ ăn, tuổi của trẻ, lượng fluor trong kem đánh răng và/hoặc sử dụng khi chăm sóc nha khoa. Phơi nhiễm florua quá mức có thể gây nhiễm florua răng Độc tố fluor Hầu hết fluor của cơ thể F được chứa trong xương và răng. Florua dạng ion của fluor được phân bố rộng rãi trong tự nhiên. Nguồn chính của florua là nước uống được bổ sung fluor. Fluor dư... đọc thêm , khiến răng bị đổi màu từ nhẹ đến nặng. Ngoài ra, kem đánh răng có florua nên được sử dụng cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Bởi vì trẻ nhỏ có thể nuốt kem đánh răng khi đánh răng, có thể gây nhiễm fluor, nên sử dụng kem đánh răng chứa lượng fluor thấp hơn dành riêng cho trẻ có tác dụng kháng sâu răng thấp hơn ở các hố rãnh so với các bề mặt nhẵn. Các hố rãnh sâu, hẹp yêu cầu phải sử dụng sealant vật liệu nhựa dính chặt vào bề mặt men răng để chặn nguồn thức ăn của vi khuẩn, giảm sự phát triển và sinh axit của những biện pháp này không làm giảm hình thành lỗ sâu, cần sử dụng biện pháp mạnh hơn để thay đổi hệ sinh vật. Sau khi sâu răng được điều trị, hố rãnh có thể chứa S. mutans, được bịt lại. Sau đó điều trị bằng cách súc miệng với 0,12% chlorinexidine trong 60 giây 2 lần/ngày trong 2 tuần, để có thể giảm các vi khuẩn gây sâu răng có trong mảng bám và cho phép tái lập hệ vi khuẩn với các chủng ít gây sâu răng hơn S. mutans. Để khuyến khích sự tái sinh này, xylitol ở dạng kẹo cứng hoặc kẹo cao su được sử dụng trong 5 phút x 3 lần/ngày. Hơn nữa, có thể kê thuốc đánh răng có hàm lượng fluoride cao ppm, hoặc nha sĩ có thể áp fluor tại chỗ hoặc cho bệnh nhân sử dụng máng nhai chứa fluor vào ban đêm. Tuy nhiên, dữ liệu liên quan đến việc sử dụng chlorhexidine với mục đích duy nhất là ngăn ngừa sâu răng ở người lớn là không nhất quán. Đối với phụ nữ mang thai có tiền sử sâu răng nghiêm trọng, các biện pháp phòng ngừa tập trung vào việc cải thiện sức khoẻ răng miệng được khuyến cáo ví dụ, hạn chế thức ăn và đồ uống có đường, đánh răng hai lần mỗi ngày bằng chất tẩy rửa chứa fluor, xỉa răng hàng ngày và đôi khi không chứa cồn chứa chlorhexidine. Nếu không khả thi, người mẹ có thể sử dụng xylitol, như đã đề cập ở trên, từ khi trẻ chào đời cho đến khi người mẹ không còn lấy mẫu thức ăn của trẻ nữa một phương thức chuyển giao được giả định. Các can thiệp trước khi sinh có thể làm giảm chuyển vi khuẩn gây bệnh từ mẹ sang con và làm chậm sự hình thành sâu răng ở phòng ngừa bệnh sâu răng sữa khi đã mọc lên ở trẻ sơ sinh, chỉ nên uống nước vào giờ ngủ. 1. Richards D No evidence that fluoride supplements taken during pregnancy prevent caries. Evid Based Dent 19373, 2018. doi Sâu răng là do các axit sinh ra bởi vi khuẩn trong mảng bám yếu tố nguy cơ bao gồm các tổn thương răng trước đây, lưu lượng nước bọt thấp, môi trường miệng có tính axit, tiếp xúc thường xuyên với carbohydrate và đường trong chế độ ăn uống, và tiếp xúc không đủ với thể thử điều trị sâu răng mới chớm ở men răng bằng cách tái khoáng hóa thông qua cải thiện việc chăm sóc tại nhà đánh răng và dùng chỉ nha khoa, làm sạch, kê đơn kem đánh răng có hàm lượng florua cao và sử dụng nhiều loại florua tại phòng khám nha khoa. Quá trình điều trị sâu răng đã xâm nhập vào ngà răng bao gồm việc làm sạch mô sâu và phục hồi lỗ sâu bằng amalgam, nhựa composite hoặc thủy tinh ngừa bao gồm đánh răng tỉ mỉ thường xuyên, sử dụng chỉ nha khoa, và làm sạch bởi nhân viên y tế; kem đánh răng có hàm lượng fluor thích hợp nếu trong nước uống không có fluor như là chất bổ sung qua đường uống cho trẻ.
Thông tin cơ bản về Răng nhiễm Fluor. Fluor là nguyên tố không màu không mùi, một vi chất dinh dưỡng tham gia vào quá trình phát triển răng, góp phần tạo nên độ cứng của men răng, ít bị hòa tan trong axit nên phòng ngừa được sâu răng. Ngoài ra Fluor còn ảnh hưởng đến sự chuyển hóa Ca, P trong cơ thể. Việc bổ sung Fluor giống như một “con dao hai lưỡi” nếu không được cung cấp đủ Fluor sẽ thiếu sản sinh men răng, tuy nhiên bổ sung quá nhiều sẽ bị nhiễm Fluor ảnh hưởng đến thẩm mỹ răng miệng. Răng nhiễm Fluor là sự thay đổi hình thái của men răng do sử dụng quá nhiều Fluor trong một thời gian dài, nhất là trong giai đoạn hình thành phát triển răng nướu. Như vậy trẻ em sẽ có nguy cơ nhiễm Fluor cao hơn do răng trẻ đang trong quá trình phát triển dưới nướu, nhưng do thiếu chú ý đến nên quá trình kéo dài tiến triển đến lớn mới bắt đầu phát hiện bị nhiễm Fluor. Dấu hiệu răng bị nhiễm Fluor Răng màu trắng đục xuất hiện đốm màu nằm rải rác trên bề mặt làm cho màu răng không đồng màu chỗ tối chỗ sáng xuất pháp từ ngay bên trong. Nếu tình trạng nặng đốm trắng lớn, mặt răng rỗ thô ráp có tiến hành tẩy trắng răng cũng không có tác dụng gì, răng bị đổi màu vĩnh viễn. Nguyên nhân dẫn đến nhiễm Fluor uống nhiều thuốc, sử dụng kem đánh răng hay các thực phẩm chứa nhiều Fluor trong một thời gian dài. Vì vậy ngay từ khi còn đang răng sữa bố mẹ cần chú ý chọn dòng kem đánh răng có hàm lượng fluor phù hợp cho con, tránh tình trạng dư thừa fluor dẫn đến hậu quả ảnh hưởng thẩm mỹ răng và ảnh hưởng đến sức khỏe – sản phẩm bọt đánh răng Dulifa…. Răng nhiễm Fluor là gì? 3. NGUYÊN NHÂN CON SÚN RĂNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẮC PHỤC 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN CHĂM SÓC RĂNG CHO CON 5. LÀM SAO VỆ SINH RĂNG CHO CON KHI ĐI DU LỊCH CHIA SẺ CỦA CÁC MẸ VỀ SẢN PHẨM CHẲNG CÒN LO CON KHÔNG HỢP TÁC TRONG VỆ SINH RĂNG MIỆNG NHỜ BỌT ĐÁNH RĂNG TRẺ EM DULIFA BỌT ĐÁNH RĂNG TRẺ EM DULIFA – ĐỒNG HÀNH CÙNG TÔM VÀ BI KHI ĐI DU LỊCH MỌI LÚC MỌI NƠI TỪ NAY KHÔNG CÒN LO CON NUỐT PHẢI KEM ĐÁNH RĂNG MẸ SỮA CHIA SẺ GIÚP CON HẾT HÔI MIỆNG VÀ MẢNG BÁM VÀNG RĂNG Bé Sữa nhà chị Hoàng năm nay 4 tuổi trộm vía rất ngoan ngoãn, bụ bẫm và dễ nuôi. Tuy nhiên, cuộc sống chăm con vốn không hề đơn giản và dễ dàng. Khi được 2 tuổi, răng của bé Sữa xuất hiện những vết ố vàng và chấm đen, ban đầu chỉ từ hai chiếc răng cửa hàm trên sau đó lan dần khắp hai hàm răng. Mới đầu chị Hoàng chỉ nghĩ chắc do vệ sinh chưa tốt, chỉ cần cho con xúc miệng kỹ là sẽ hết không lan sang răng khác, “ Ban đầu mình nghĩ đơn giản là răng trẻ con bé nào cũng thế, rồi tôi cũng chỉ hướng dẫn cho con đánh răng, cũng mua mấy loại kem đánh răng mà về bé đều không thích nên ngày nào cũng phải nhắc nhở mỏi miệng con mới chịu hợp tác. Có khi nhiều hôm tôi bận quá còn để kệ con tự chải răng. Ấy vậy mà cứ thấy răng con càng ngày càng đen xì và mòn hết răng. Cho đến dạo gần đây thì thấy miệng bé hôi lắm, lại còn hay kêu đau trong răng thì tôi mới kiểm tra thì thấy sùi ra hai ba cục mủ ở lợi. Tôi lo quá cho đi khám thì bác sĩ nói con bị viêm lợi, viêm tủy răng, sún cụt răng”. Mẹ Sữa chia sẻ được bác sĩ chia sẻ bí kíp đánh bay mùi hôi miệng và vết ố vàng trên răng của Sữa 4 tuổi Hôm đó, khi đi khám nha khoa bác sỹ có tư vấn cho chị Hoàng sử dụng Bọt đánh răng trẻ em Dulifa của công ty Dược Mỹ Phẩm AC8. Rút kinh nghiệm từ trước, chi Hoàng không vội vàng cho Sữa dùng ngay mà dành thời gian một đêm lên mạng tìm hiểu về sản phẩm Bọt đánh răng trẻ em Dulifa này. Khi biết được Bọt đánh răng trẻ em Dulifa được chiết xuất 100% từ thiên nhiên, lại hoàn toàn không chứa fluor, chất bào mòn men răng cũng như các chất bảo quản gây hại, cộng thêm sự tư vấn của bác sỹ, chị Hoàng hoàn toàn yên tâm mua về sử dụng cho Sữa. “ Bác sĩ nói do con mình men răng yếu mà lại không vệ sinh đúng cách và dùng loại kem đánh răng có chất bào mòn men răng nhiều nên con bị hỏng hết răng, vi khuẩn thuận lợi tấn công nên dẫn đến bị sâu sún răng, viêm lợi dẫn đến viêm tủy răng. Bác ấy giới thiệu cái Bọt đánh răng trẻ em dulifa này không chứa các chất gây bào mòn men răng, không có hóa chất tổng hợp mà hoàn toàn từ thảo dược nên rất an toàn cho bé, có nuốt phải cũng không lo lắng” “ mà cái bọt đánh răng trẻ em dulifa này hay lắm này, ngoài dùng đánh răng mình còn dùng cho con xúc miệng thay dung dịch xúc miệng khác cho con ấy. Cái mùi thơm hoa quả với cái vị ngọt thanh con nhà mình nó thích lắm.
bổ sung fluor cho răng